Warren Buffett – 12. Tìm những công ty có vị thế trên thị trường.

0
36

Sau khi chọn lựa ngành nghề có sức thu hút, thì trong số hàng ngàn các công ty cùng ngành nghề đó, nhà đầu tư nên lựa chọn như thế nào?

Buffett cho rằng, mấu chốt là phải phân tích ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp và khả năng bền vững của nó. Một lần nữa ông khẳng định: “Đối với việc đầu tư quan trọng không phải là xác định tầm ảnh hưởng của ngành nghề đó với xã hội lớn như thế nào, hoặc là ngành nghề này sẽ tăng trưởng bao nhiêu mà phải xác định rõ ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp được lựa chọn và sự phát triển bền vững của ưu thế này.”

  • Phân tích ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp – Tìm doanh nghiệp có vị thế

Sở dĩ Buffett nhấn mạnh đầu tư vào doanh nghiệp có ưu thế cạnh tranh bền vững là vì với việc đầu tư, giá cổ phiếu cuối cùng được quyết định bởi giá trị nội tại của doanh nghiệp,những doanh nghiệp có ưu thế khi so sánh với đối thủ cạnh tranh khác thì thường có khả năng thu lợi cao hơn, lợi nhuận thu được càng nhiều hơn.

Trong cạnh tranh thị trường, một doanh nghiệp có ưu thế cạnh tranh và từ đó có khả năng thu được lợi nhuận vượt mức bình quân nhất định sẽ thu hút các doanh nghiệp khác mô phỏng và làm theo, từ đó sẽ kích thích tính cạnh tranh trong thị trường, khiến cho doanh số sụt giảm. Nếu doanh nghiệp vẫn giữ được ưu thế cạnh tranh trong thời gian dài thì nó cũng sẽ tiếp tục giữ được mức lợi cao hơn so với những đối thủ cạnh tranh khác trong ngành nghề đó.

Vậy ưu thế cạnh tranh là gì? Ưu thế cạnh tranh là chỉ quá trình doanh nghiệp cung cấp sản phẩm dịch vụ cho khách hàng, thể hiện ưu thế vượt trội so với các đối thủ cạnh tranh khác, và nhờ vào những ưu thế này khiến doanh nghiệp có thể trong một thời gian nhất định giữ được khả năng tăng trưởng giá trị vượt mức bình quân.

Chúng ta có thể dùng công thức trong kinh tế học vi mô để tiến hành phân tích một cách đơn giản ưu thế cạnh tranh:

Lợi nhuận = lượng tiêu thụ * (giá tiêu thụ – giá sản xuất )

= Thị phần thị trường * tổng lượng tiêu thụ thị trường * lợi nhuận tiêu thụ

= thị phần thị  trường * tổng lượng tiêu thụ thị trường *( giá tiêu thụ – giá sản xuất )

Doanh nghiệp có ưu thế cạnh tranh thông thường sẽ thu được lợi nhuận nhiều hơn đối thủ cạnh tranh. Siêu lợi nhuận này đến từ thị phần của thị trường, giá sản xuất thấp, giá tiêu thụ cao. Thị phần thị trường càng lớn thì có nghĩa hạ thấp giá thành, vì thế sẽ giảm thấp giá tiêu thụ và mở rộng thị phần thị trường.

Khi sản phẩm của doanh nghiệp có ưu thế hơn sản phẩm của các doanh nghiệp khác, cho dù là bán ra với giá cao thì thị phần thị trường cũng sẽ tăng lên. Do đó, ưu thế cạnh tranh có thể được quy về việc giảm thấp giá thành sản xuất xuống hoặc nâng giá tiêu thụ cao lên. Từ đó, có thể quy ưu thế cạnh tranh về hai loại hình như sau : Ưu thế giá thành và ưu thế khác biệt hóa. Đối tượng đầu tư mà chúng ta tìm kiếm chính là những doanh nghiệp có ưu thế về giá thành.

Vậy trong quá trình đầu tư, Buffett đã làm thế nào để tìm được doanh nghiệp có ưu thế khác biệt?

  • Đặc quyền kinh doanh – Tìm doanh nghiệp có sự bảo hộ.

Sự khác biệt giữa doanh nghiệp và đối thủ cạnh tranh thường thể hiện ở sản phẩm và sự phục vụ khác biệt so với đối thủ cạnh tranh, dẫn đến việc đa số khách hàng trên thị trường yêu thích sản phẩm và dịch vụ của nó hơn. Những khác biệt này là nguyên nhân cơ bản của ưu thế cạnh tranh. Vì thế, có thể nói, trọng tâm của ưu thế cạnh tranh chính là ở sự khác biệt.

Nếu doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh khác biệt thì sản phẩm của nó cho dù có giá trị thành phẩm gần với đối thủ trạnh tranh đi nữa, nó vẫn có thể mang lại nhiều giá trị hơn cho khách hàng; cho dù giá thành sản xuất có thể cao hơn đối thủ cạnh tranh, nhưng chất lượng sản phẩm lại rõ ràng cao hơn đối thủ cạnh tranh , mang đến nhiều giá trị, lợi ích cho khách hàng hơn.

Buffett xem lợi thế cạnh tranh khác biệt là “Đặc quyền kinh tế”, trong tờ báo năm của Berkshire Hathaway năm 1991, ông nói : “Nếu một sản phẩm và dịch vụ của một doanh nghiệp có được ba đặc điểm nổi bật : Thứ nhất, sản phẩm và dịch vụ có thị trường rộng mở; thứ hai, được khách hàng xem là không thể có thứ khác thay thế được; thứ 3, không bị sự chi phối của giá cả. Như vậy doanh nghiệp này sẽ có được “Đặc quyền kinh tế”, có khả năng chủ động nâng cao giá trị cho những sản phẩm và dịch vụ của mình, từ đó có thể thu được mức lợi nhuận tài sản cao.”

Phân tích những doanh nghiệp mà Buffett đầu tư như Coca-Cola , Washington Post… có thể thấy, trong thị trường cạnh tranh của nó đều là nhữn nhà lãnh đạo thị trường tuyệt đối và rất chú ý đến quan hệ cạnh tranh lành mạnh với các đối thủ cạnh tranh nằm duy trì một cơ cấu thị trường ổn định.

Buffett đã mô tả đặc quyền kinh tế như một hàng rào bảo vệ, những đặc quyền này đã tạo nên được một hàng rào bảo vệ an toàn cho doanh nghiệp và làm cho nó có thêm được một sự bảo hộ trong giới thương mại. Buffett xem Gillette là một ví dụ tiêu biểu để nói lên quan điểm của mình : “Thế giới mỗi năm sử dụng 20.000-30.000.000 lưỡi dạo cạo, trong đó 30% là của Gillette sản xuất ở một số nước và một số khu vực chẳng hạn như Mexico và Scandinavia, Gillette chiếm 90% thị phần thị trường. Lưỡi dao cạo là vật dụng không thế thiếu trong cuộc sống hàng ngày của người dân, và Gillette là một công ty luôn cam kết phát triển sản phẩm lưỡi dao cạo ngày càng tốt hơn nữa, nhờ đó nó có được thị phần cao và một vị trí không thể thay thế trong tâm trí của người tiêu dùng. Như chúng ta biết, dao cạo râu là thứ chúng ta sử dụng mỗi ngày. Mỗi năm, bạn chỉ cần chi 20 đô-la để đổi lấy cảm giác dễ chịu khi cạo râu. Một khi đã được trải nghiệm cảm giác này, thì với đa số nam giới, họ sẽ có xu hướng không thay thế bất kì thương hiệu nào khác.”

Sản phẩm mà Gillette cung cấp là những đồ dùng thiết yếu của người dân, những điều nà không cần phải thay đổi theo thời gian hay môi trường. Buffett đã nói : “Khi bạn đang nằm trên giường, chỉ cần nghĩ đến chuyện trong khi bạn ngủ, râu của khoảng 2,5 tỉ đàn ông trên thế giới vẫn đang liên tục dài ra, bạn sẽ cảm thấy rất thoải mái. Vì vậy, người làm việc trong hãng Gillette sẽ không gặp vấn đề về giấc ngủ.”

Kể từ khi bước vào ngành công nghiệp đầu tư, Buffett có một sự yêu thích với những công ty có đặc quyền kiểu này. Theo quan điểm của ông, trong thời điểm rất nhiều công ty kinh doanh bình thường khác gặp khủng hoảng, thông thường những người kinh doanh nhượng quyền thương mại tuy cũng có thể bị ảnh hưởng, nhưng vị trí đặc quyền của họ là không thể lay chuyển; mặc dù tại thời điểm gặp khó khăn thì giá cổ phiếu thường bị sụt giảm, nhưng với Buffett  thì đó lại là tời cơ thuận lợi để mua vào. Công ty American Express vào năm 1963 vì vụ bê bối dầu trộn salad mà có một dạo giá cổ phiếu bị sụt giảm, nhưng Buffett thấy vụ bê bối này không gây nguy hiểm cho cho vị trí đặc quyền của séc du lịch hay thẻ tín dụng của American Express, vì vậy, ông không quan tâm lắm đến bảng công nợ của doanh nghiệp. Nhận thấy được vị trí vững chắc của American Express và mạnh dạn mua vào cổ phiếu của nó là một trong những giao dịch thành công nhất trong sự nghiệp đầu tư của Buffett.

Nếu như bạn đã tìm hiểu được về những “doanh nghiệp đặc quyền”, thì bạn sẽ không mấy khó khăn để tìm ra được cổ phiếu của chúng trong số hàng nghìn, hàng vạn loại cổ phiếu khách nhau trên thị trường. Và nếu như bạn mua vào loại cổ phiếu này với một cái giá hợp lí, đồng thời có ý định nắm giữ lâu dài, thì gần như phi vụ đầu tư này của bạn sẽ được an toàn tuyệt đối.

Với  ưu thế cạnh tranh trọng tâm trong chiến lược, chúng ta chỉ cần phân tích đơn giản 500 doanh nghiệp lớn trên thế giới thì sẽ phát hiện ra, không có doanh nghiệp nào lại không có năng lực cạnh tranh trọng tâm ở các phương diện như quyết sách,khả năng sáng tạo, mô hình quản lí, mạng lưới thị trường, hình ảnh thương hiệu, dịch vụ khách hàng. Sức cạnh tranh chủ yếu chính là ưu thế cạnh tranh trong tâm về mặt chiến lược, ưu thế cạnh tranh này giúp cho doanh nghiệp thu được thành công nổi trội so với các doanh nghiệp khác trong cùng ngành nghề, trờ thành doanh nghiệp dẫn đầu trên thị trường cổ phiếu.

  • Đối tượng đầu tư của bạn có năng lực cạnh tranh cốt lõi không?

Phân tích năng lực cạnh tranh cốt lõi của doanh nghiệp giúp chúng ta có thể rõ ràng và nhanh chóng phát hiện thêm được những đối tượng đầu tư của mình trong thị trường chứng khoán phức tạp, thêm vào một công cụ đắc lực cho sách lược đầu tư.

Năng lực cạnh tranh cốt lõi của doanh nghiệp là gì? Công ty tư vấn quản lí nổi tiếng Mckinsey cho rằng : Năng lực cạnh tranh cốt lõi có nghĩa là một doanh nghiệp cho dù có hay không có ưu thế cạnh tranh về mặt kết cấu, chỉ cần có được một vài kĩ thuật hoặc kiến thức đặc biệt trong ngành, là doanh nghiệp đó có thể cso được thành công nổi bật.

Từ định nghĩa này, chúng ta có thể thấy năng lực cạnh tranh cốt lõi của doanh nghiệp được chia thành ba loại cơ bản:

Loại hình cơ bản thứ nhất : Năng lực thị trường, để chỉ năng lực thúc đẩy doanh nghiệp tiếp cận gần hơn với người tiêu dùng hoặc thị trường, chủ yếu bao gồm những phương diện như quản lí phát triển thương hiệu, Marketing thị trường , mạng lưới phân phối, hậu cần và hỗ trợ kĩ thuật.

Loại hình cơ bản thứ hai : Năng lực tích hợp, tồn tại trong kinh doanh, để chỉ năng lực sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ nhanh hơn, linh hoạt hơn hoặc chất lượng sản phẩm cao hơn của doanh nghiệp, chủ yếu bao gồm những phương diện như chất lượng, thời gian chu kì sản xuất sản phẩm và khả năng quản lí kho bãi.

Loại hình cơ bản thứ ba : Khả năng chức năng. Tức là một doanh nghiệp bằng cách cung cấp sản phẩm dịch vụ với các chức năng của sự khác biệt, để tạo ra năng lực khác biệt trong giá trị cho người tiêu dùng.

Khả năng cạnh tranh cốt lõi của doanh nghiệp thể hiện trong năm khía cạnh sau:

  1. Đặc điểm giá trị

Năng lực cạnh tranh cốt lõi là mạch nguồn của ưu thế cạnh tranh bền vững . Do đó, đặc điểm giá trị của năng lực cạnh tranh cốt lõi thể hiện ở ba mặt:

  • Khả năng tạo ra giá trị cho người tiêu dùng

Năng lực cạnh tranh cốt lõi thông qua việc tạo ra các sản phẩm để đáp ứng nhu cầu thị trường thể hiện giá trị mà khách hàng đặc biệt quan tâm, để cung cấp cho khách hàng với giá trị nhiều hơn so với đổi thủ cạnh tranh.

  • Khả năng tạo ra giá trị kinh doanh

Khả năng cạnh tranh cốt lõi của doanh nghiệp để tạo ra sự khác biệt giá trị và sự khác biệt chi phí, có vị trí cốt lõi có thể cải thiện đáng kể lợi nhuận của doanh nghiệp. Nó cho phép các doanh nghiệp có thể đáp ứng nhu cầu dịch của khách hàng với chi phí thấp hơn so với các đối thủ cạnh tranh, đồng thời năng lực cạnh tranh tạo ra giá trị nhiều hơn cho công ty.

  • Tận dụng cơ hội hoặc khả năng chịu được cuộc khủng hoảng.

Giá trị của năng lực cạnh tranh cốt lõi khiến các doanh nghiệp trong cùng một môi trường tận dụng cơ hội hoặc chịu được các cuộc khủng hoảng tốt hơn so với đối thủ cạnh tranh, là một khả năng cạnh tranh tích hợp, năng động.

  • Tính then chốt.

Năng lực cạnh tranh cốt lõi là yếu tố quan trọng nhất tạo nên giá trị cho doanh nghiệp, góp phần quan trọng nhất đối với giá trị cuối cùng của sản phẩm hoặc dịch vụ. Các khả năng cạnh tranh cốt lõi có tiềm năng để hỗ trợ các sản phẩm cuối cùng hoặc dịch vụ khác nhau, nó vừa là cái “khung” của các doanh nghiệp vụ mới, giúp cho doanh nghiệp có thêm tiềm năng xâm nhập vào các thị trường khác.

Trên thực tế, việc lựa chọn tập trung vào một hoặc hai khả năng cạnh tranh không giúp doanh nghiệp loại bỏ được những điểm của quy mô, phạm vi, cũng như không thể bù đắp được cho sự thiếu hụt ở lĩnh vực khác.

Nếu muốn thắng thông qua chiến lược nhằm vào ưu thế cạnh tranh cốt lõi để mua cổ phiếu thì ưu thế này phải quan trọng hơn tất cả các nhân tốt chiến lược khác, ví dụ như ưu thế về tính kết cấu hoặc khả năng có được giá đầu vào nguyên liệu thấp đều thuộc về loại năng lực cạnh tranh cốt lõi mạnh mẽ này.

  • Tính độc đáo và hiếm có.

Khả năng cạnh tranh cốt lõi của doanh nghiệp là khả năng cạnh tranh độc đáo có một không hai, điều này phản ánh khả năng cạnh tranh ưu việt khi so sánh với tất cả các đối thủ cạnh tranh khác. Khả năng cạnh tranh cốt lõi không chỉ là vượt lên trên, mà còn là vượt xa so với đối thủ. Sự khác biệt của năng lực cạnh tranh cốt lõi quyết định sự khác biệt hiệu quả kinh doanh giữa các doanh nghiệp.

Tính độc đáo này cũng cho thấy rằng, năng lực cốt lõi là hiếm có, rất khó hình thành, và sua khi đã hình thành xong thì các đối thủ khác khó mà bắt chước được. Sự độc đáo của khả năng cạnh tranh cốt lõi cũng được thể hiện qua việc nó không thể bị thay thế bởi các cạnh tranh bình thường khác, từ đó mà có thể hỗ trợ cho việc doanh nghiệp thực hiện các chiến lược độc đáo và đạt được lợi lợi thế cạnh tranh. Nhưng nếu năng lực cốt lõi của doanh nghiệp vừa không độc đáo lại vừa dễ bị mô phỏng theo, khiến các đối thủ cạnh tranh hiện tại có thể thực hiện các chiến lược tương tự, thì doanh nghiệp sẽ sớm bị suy yếu hoặc thậm chí đánh mất lợi thế cạnh tranh của mình.

  • Tính không thể bắt chước.

Năng lực cạnh tranh cốt lõi của công ty không được để bị các đối thủ khác bắt chước. Các đối thủ cạnh tranh khi muốn mô phỏng theo năng lực cạnh tranh cốt lõi của doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với bất lợi về chi phí hay nguyên liệu, khiến cho năng lực cạnh tranh cốt lõi của doanh nghiệp có được lợi thế cạnh tranh bền vững. Sở dĩ năng lực cạnh tranh cốt lõi khó có thể bị bắt chước, lí do chính là vì sự tồn tại của các rào cản giả để ngăn các công ty cạnh tranh khác, do đó cho phép các doanh nghiệp có thể duy trì được lợi thế cạnh tranh bền vững.

  • Tính ẩn tàng.

Năng lực cạnh tranh cốt lõi thể hiện qua các phương diện như công nghệ độc đáo, kĩ thuật, tổ chức quản lí và lưu trữ trong doanh nghiệp, những điều này khó có thể trực tiếp mô tả bằng lời nói, văn bản, biểu tượng, vì thế có thể coi nó là một dạng tri thức ẩn. Loại tri thức ẩn này còn mơ hồ về thế giới bên ngoài và ngay cả bản thân các doanh nghiệp, thường được giấu trong cơ cấu quản lí doanh nghiệp, văn hóa doanh nghiệp và quy trình kĩ thuật của công ty, ngoài ra còn có thể nằm rải rác trong các bộ phận hoặc trong tay các cá nhân khác nhau.

  • Đó có phải là một “Doanh nghiệp thực sự nổi trội” không?

Trong việc đầu tư của Buffett, ông hứng thú với những doanh nghiệp nổi trội có khả năng cạnh tranh cốt lõi thực sự, bởi họ có thể mang lại giá trị thực sự cho doanh nghiệp và khách hàng. Là một nhà đầu tư, cần phải có sự hiểu biết rõ ràng về bản chất của các doanh nghiệp, bạn phải phân tích cẩn thận đối tượng đầu tư của mình, kiểm tra xem nó có thực sự mang lại giá trị cho doanh nghiệp và khách hàng hay không , từ đó đánh giá một cách rõ ràng xem liệu nó có khả năng cạnh tranh cốt lõi hay không.

  1. Năng lực cạnh tranh cốt lõi có mang lại giá trị cho doanh nghiệp và khách hàng không?

Chúng ta có thể xem xét tính khác biệt của dịch vụ hay sản phẩm của doanh nghiệp để phân tích xem năng lực cạnh tranh cốt lõi của doanh nghiệp này có góp phần quan trọng  vào việc làm gia tăng gái trị vượt mức giá bình quân hay không. Những số liệu về phương diện này có thể lấy ra từ giá trị gia tăng các năm của doanh nghiệp.

  • Năng lực cạnh tranh cốt lõi của doanh nghiệp có thể mang lại giá trị đặc biệt cho khách hàng hay không?

Từ góc độ người tiêu dùng, muốn phân tích doanh nghiệp để xem doanh nghiệp này có mang lại giá trị quan trọng cho khách hàng, hoặc tạo ra giá trị gia tăng lớn nhất cho khách hàng hay không, thì cần phải làm rõ những vấn đề sau: Người tiêu dùng chịu bỏ tiền ra rốt cuộc là để đổi lấy cái gì? Vì sao người tiêu dùng chịu bỏ ra nhiều tiền hơn cho những sản phẩm và dịch vụ nào đó? Những nhân tố giá trị nào là quan trọng nhất đối với người tiêu dùng và có cống hiến nhiều nhất cho giá trị mua thực tế? Qua việc phân tích như vậy, có thể bước đầu phân biệt được khả năng cạnh tranh cốt lõi thực sự có thể tác động đến người tiêu dùng.

  • Năng lực cạnh tranh cốt lõi của doanh nghiệp có thể mang lại giá trị đặc biệt cho doanh nghiệp hay không?

Thông qua việc phân tích bảng kinh doanh trong thời gian dài của doanh nghiệp, chúng ta liệu có thể xác định được: Doanh nghiệp này có biết tận dụng cơ hội tốt và chống lại rủi ro hay không? Có năng lực thu lợi một cách xuất sắc hay không? Khả năng cạnh tranh cốt  lõi có tác dụng quan trọng nhất trong việc tạo ra giá trị của doanh nghiệp hay không?

POINT

  1. Chức năng cơ bản của  thị trường cở phiếu là tận dụng phương thức thị trường hóa để cải thiện việc phân bổ các nguồn lực của doanh nghiệp, vì vậy, công ty có ưu thế sẽ được quan tâm chú ý nhiều hơn.
  2. Năng lực cạnh tranh cốt lõi của doanh nghiệp thể hiện dưới 5 phương diện sau.
  3. Thứ nhất : Đặc trưng giá trị
  4. Thứ hai : Tính then chốt
  5. Thứ ba : Tính độc đáo và hiếm có
  6. Thứ tư : Tính không thế bắt chước
  7. Thứ năm : Tính ẩn tàng

LỜI KHUYÊN CỦA BUFFETT

Doanh nghiệp tốt còn quan trọng hơn giá cả hấp dẫn.